Than bùn

Than bùn là sản phẩm phân hủy của thực vật, màu đen hoặc nâu, xuất hiện từng lớp mỏng. Đây là một hỗn hợp của thực vật; mùn, vật liệu vô cơ và nước, trong đó di tích thực vật chiếm hơn 60%. Xác thực vật được tích tụ lại, được đất vùi lấp và chịu tác động của điều kiện ngập nước trong nhiều năm. Với điều kiện phân huỷ yếm khí các xác thực vật được chuyển thành than bùn.

Công dụng: Nguyên liệu phân bón

Thành phần: Hữu cơ: 18% - 34%; Axít Humic: 2% – 8%

Đóng gói: Bao 50kg

Giá Bán: Theo thị trường

            

Than bùn là sản phẩm phân hủy của thực vật, màu đen hoặc nâu, xuất hiện từng lớp mỏng. Đây là một hỗn hợp của thực vật; mùn, vật liệu vô cơ và nước, trong đó di tích thực vật chiếm hơn 60%. Xác thực vật được tích tụ lại, được đất vùi lấp và chịu tác động của điều kiện ngập nước trong nhiều năm. Với điều kiện phân huỷ yếm khí các xác thực vật được chuyển thành than bùn.

Than bùn được sử dụng trong nhiều ngành kinh tế khác nhau. Trong nông nghiệp than bùn được sử dụng để làm phân bón, gắn liền với phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch và bền vững. Sau khi than bùn được xử lý, họat hóa, bổ sung thêm các nguyên tố đa lượng N, P, K, trung vi lượng thiết yếu cùng hệ vi sinh vật có ích sẽ trở thành phân bón, phân bón này giúp cây trồng tăng trưởng nhanh, phát triển đồng đều bền vững, .. mặt khác phân hữu cơ chứa hệ vi sinh vật hữu ích giúp tăng cường hấp thụ các chất dinh dưỡng từ trong đất, phát huy được tiềm năng năng suất của cây trồng, tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng nông sản.

Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong than bùn thay đổi tuỳ thuộc vào thành phần các loài thực vật và quá trình phân huỷ, đáng lưu ý đó là hàm lượng hữu cơ, các chất mùn, axit humic,.. có tác dụng kích thích tăng trưởng của cây.

Số liệu phân tích than bùn ở một số địa điểm có than bùn:

Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong than bùn ở miền Đông Nam Bộ

Đơn vị %

% chất dinh dưỡng

Địa điểm

Tây Ninh

Củ Chi

Mộc Hoá

Duyên Hải

N

0,38

0,09

0,16 – 0,91

0,64

P2O5

0,03

0,1 – 0,3

0,16

0,11

K2O

0,37

0,1 – 0,5

0,31

0,42

pH

3,4

3,5

3,2

2,6

 

Than bùn có hợp chất bitumic nếu bón trực tiếp cho cây không những không có tác dụng tốt mà còn có hại cho cây trồng, làm giảm năng suất cây trồng. Vì vậy, than bùn muốn dùng làm phân bón phải khử được xử lý.

Để bón cho cây, người ta không sử dụng than bùn để bón trực tiếp. Thường than bùn được ủ với phân chuồng, phân rác, phân bắc, nước giải, sau đó mới đem bón cho cây. Trong quá trình ủ, hoạt động của các loài vi sinh làm phân huỷ các chất có hại và khoáng hoá các chất hữu cơ tạo thành chất dinh dưỡng cho cây.

Chế biến than bùn  thông thường quá trình chế biến thông qua các công đoạn sau:

Dùng tác động của nhiệt để khử bitumic trong than bùn. Có thể phơi nắng một thời gian để Ôxy hoá bitumic. Có thể hun nóng than bùn ở nhiệt độ 70oC.

Dùng vi sinh vật phân giải than bùn.

Than bùn

Than bùn là sản phẩm phân hủy của thực vật, màu đen hoặc nâu, xuất hiện từng lớp mỏng. Đây là một hỗn hợp của thực vật; mùn, vật liệu vô cơ và nước, trong đó di tích thực vật chiếm hơn 60%. Xác thực vật được tích tụ lại, được đất vùi lấp và chịu tác động của điều kiện ngập nước trong nhiều năm. Với điều kiện phân huỷ yếm khí các xác thực vật được chuyển thành than bùn.